Trang Nhà | Kinh Sách | Tin Tức | Pháp Thoại | Hình Ảnh | Liên Lạc

| Trang Chính | Thông báo thời khóa t… »

Vấn Đạo - Định Niệm Hơi Thở


VẤN ĐẠ0 - ĐỊNH NIỆM HƠI THỞ

Ghi chú: Tu tập Định Niệm Hơi Thở cần phài liên lạc với Thầy Thích Thông Lạc thường xuyên.

Hỏi:  Kính thưa Thầy, hiện nay con vẫn tiếp tục theo dõi hơi thở, an trú hơi thở vào phần dưới bụng, gom tâm vào hơi thở ở một chỗ, thì hơi thở chậm lại và các tâm hành dừng hẳn, nếu tác ý muốn dừng hơi thở hoặc điều khiển hơi thở theo ý mình nhanh hay chậm tùy ý.
Nhưng con muốn cho hơi thở lắng sâu và dừng hẳn, tác ý như vậy thì hơi thở dừng, nhưng được một lúc thì hơi thở bị nén nên thở ra dồn dập, vậy con phải làm sao để hơi thở và tâm hành dừng hẳn. Mong Thầy chỉ dạy cho con để con nương đó mà tiến tu? (một Tu Sĩ ở Đà Lạt thưa hỏi)

Thầy đáp: Qua sự trình bày tu về hơi thở, thì Thầy tu theo pháp tùy tức của Lục Diệu Pháp Môn, người chế ra pháp môn này là Trí Khải Đại Sư. Thầy trụ tâm dưới bụng đó là cách trụ tâm của thiền Minh Sát Tuệ, người khai sinh ra pháp này là thiền sư Miến Điện Mahasi.
Công phu tu tập của Thầy nương vào hơi thở tập tỉnh thức theo cách tùy tức (tâm yên lặng) để tác ý điều khiển hơi thở chậm nhẹ và dừng để đi vào trạng thái tĩnh lặng sâu hơn.
Ở đây, Thầy là người tu không có thiện hữu tri thức hướng dẫn, tự tập hợp các pháp của các nhà học giả tưởng giải ra tu tập. Nếu Thầy tiếp tục tu Thầy sẽ là nạn nhân của những pháp môn này:
1. Ức chế tâm để tâm hành dừng hẳn.
2. Ức chế hơi thở để thân hành dừng hẳn.
3. Để lắng sâu vào trạng thái tĩnh lặng để nhập định.

Muốn cho hơi thở và tâm hành dừng hẳn thì Thầy hãy tu “Tứ Thánh Định” còn Thầy tu theo Lục Diệu Pháp Môn và thiền Minh Sát Tuệ thì không bao giờ tịnh chỉ hơi thở được tức là tịnh chỉ thân hành. Còn tịnh chỉ tầm tứ mới là tịnh chỉ tâm hành được.

Người tu thiền thời nay, tu sai thứ nhất là ức chế tâm để hết vọng tưởng. Nếu hết vọng tưởng có lợi ích gì cho quý Thầy đâu? Hết vọng tưởng có làm chủ sanh, già, bệnh, chết hay không? Hết vọng tưởng ngồi như con cóc để làm gì? Khi xả ra thì tâm tham, sân, si còn đủ, danh lợi không từ, ăn uống phi thời không bỏ, thấy nữ sắc còn đắm chìm say mê, thì tu như vậy có ích lợi gì? Có giải thoát cái gì? Những loại thiền ức chế tâm, xưa Đức Phật đã tu tập và tìm trong các thiền ức chế tâm đó không có giải thoát, chỉ là một sự tu tập làm khổ thân tâm của mình (thành bịnh) Ngài phải bỏ. Đã bao lần Ngài tập nín thở để đạt được giải thoát nhưng cuối cùng Ngài chẳng tìm được chỗ nín hơi thở có sự giải thoát. Bây giờ quý Thầy lại bắt chước tu như vậy nữa hay sao?

Mục đích của Thầy đi tu là tìm sự giải thoát làm chủ bốn cái khổ: Sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi hay đi tìm chỗ hơi thở để trụ tâm và dừng tâm hành?
Nếu đi tìm hơi thở dừng và tâm hành dừng thì Thầy không có kinh nghiệm. Nhưng muốn tu tập làm chủ bốn cái khổ: sanh, già, bệnh, chết thì nên trở về tu tập và sống đúng pháp môn của Đức Phật:
1. Giới luật phải nghiêm túc.
2. Tu tập Tứ Chánh Cần
3. Tu tập chánh niệm tỉnh giác (thân hành niệm ngoại).
4. Định vô lậu (Tứ niệm xứ).
5. Định niệm hơi thở (thân hành niệm nội).
Phải dẹp bỏ pháp môn Tùy Tức của Trí Khải Đại Sư và pháp môn Minh sát tuệ của Mahasi.
Bắt đầu tu tập các loại định xả tâm “ly dục ly ác pháp” không được tu tập các pháp môn ức chế tâm và ức chế cơ.
Khi nào xả tâm sạch, ly dục, ly ác pháp, tâm không còn tham, sân, si phiền não nữa thì lúc bấy giờ tâm thanh thản, an lạc thường quay vào thân, không có phóng dật ra ngoài, thì bây giờ nương hơi thở khéo tác ý theo đề mục hơi thở 1 để luyện tập Tứ Thần Túc trên Thân Hành Niệm Nội. Từ đề mục hơi thở 1 có kết quả rồi mới tu tập đến đề mục 2 rồi đề mục 3, cho đến đề mục thứ 19 (không được ức chế tâm để hết vọng tưởng). Khi tu tập như vậy tâm sẽ có đầy đủ nội lực, nhờ nội lực đó hướng tâm mà chỉ nhẹ nhàng khéo tác ý “tịnh chỉ tầm tứ” (chỗ này ức chế hết vọng tưởng là sai, chỉ hướng tâm nhẹ nhàng tầm tứ diệt) tâm nhập Nhị Thiền, khi tâm đã nhập Nhị Thiền thì không có thấy hơi thở (hơi thở còn thở, chứ ở đây chưa phải tịnh chỉ hơi thở) tự nó thở chậm và nhẹ nhàng, ta không dụng cơ điều khiển nó. Nếu dụng cơ điều khiển cho chậm nhẹ là sai, đó là dùng cơ ức chế tâm.
Muốn nhập Tam Thiền ta phải nương hơi thở trạng thái bất động tâm khéo tác ý nhẹ nhàng tịnh chỉ các trạng thái tưởng, tức là ly hỷ tưởng, có nghĩa là không còn một trạng thái hỷ tưởng nào cả. Nói tóm lại là phải ly sạch 18 loại tưởng cho thật sạch. Lúc bấy giờ mới nhập Tam Thiền dễ dàng, không có khó khăn không có mệt nhọc.
Muốn nhập Tứ Thiền phải xuất Tam Thiền nương vào hơi thở tr ạng th ái b ất đ ộng t âm, khéo tác ý tịnh chỉ thọ, âm thanh và các hành trong thân, rồi sau đó mới hướng tâm tịnh chỉ hơi thở tức là thân hành dừng, nhập Tứ Thiền.
Khi nhập Tứ Thiền xong là lúc bấy giờ tâm định trên thân, thân định trên tâm liền trở về trạng thái bất động tâm hướng tâm tức là dẫn tâm đến Tam Minh. Khi Tam Minh đã viên mãn thì ta đã làm chủ sanh tử và chấm dứt luân hồi, không còn tái sanh nữa.
Thầy xin tóm lại cho dễ hiểu: Khi tu tập như vậy tâm sẽ có đầy đủ nội lực, nhờ nội lực đó hướng tâm nhẹ nhàng khéo tác ý “ly dục ly ác pháp nhập sơ thiền” Khi tâm nhập sơ thiền xong liền xuất sơ thiền trở về trạng thái bất động tâm rồi hướng tâm nhập nhị thiền theo câu pháp hương trong kinh Nikaya “Tâm diệt tầm tứ nhập nhị thiền”, khi tâm nhập nhị thiền xong thì xuất nhị thiền trở về trạng thái tâm bất động rồi hướng tâm nhẹ nhàng theo câu pháp hương trong kinh Nikaya “Tâm ly hỷ trú xả nhập tam thiền” khi tâm nhập tam thiền xong rồi xuất tam thiền trở về trạng thái tâm bất động, rồi hướng tâm nhẹ nhàng theo câu pháp hương trong kinh Nikaya “tâm xả lạc, xả khổ. xả niệm thanh tịnh nhập tứ thiền” Khi tâm nhập tứ thiền xong rồi xả tứ thiền trở về trạng thái tâm bất động từ đó hướng tâm nhẹ nhàng đến tam minh một cách dễ dàng không có khó khăn. Nếu dụng cơ điều khiển hơi thở cho chậm nhẹ là sai, đó là dùng cơ ức chế tâm.
- Tu thiền định ức chế tâm chỉ một thời gian tâm sẽ bộc phát tham, sân, si, mạn, nghi rất mạnh. Ức chế tâm dễ sanh chiêm bao.
- Ức chế thân dễ sanh rối loạn cơ thể, rối loạn thần kinh, có thể sanh nhiều bịnh tật khó trị.
- Ức chế tâm, lắng sâu vào các trạng thái tĩnh lặng, dễ rơi vào các trạng thái định tưởng (tà định).
Đó là những loại định rất nguy hiểm cho người tu không có thiện hữu tri thức hướng dẫn.
Về Định Niệm Hơi Thở thì phải tu đúng như trong kinh Nguyên Thủy mà Đức Phật đã dạy: “Định Niệm Hơi Thở" không phải “Sổ Tức Quán” không phải “Lục Diệu Pháp Môn”. Không nên tu theo các pháp hơi thở do các Tổ biên soạn và ba hơi thở của thiền Voga.
Pháp Định Niệm Hơi Thở của Phật là pháp xả tâm vi tế tạo thành nội lực Tứ Thần Túc, Nó là phương pháp Thân Hành Niệm Nội, quý vị nên lưu ý: “Quán ly tham tôi biết tôi hít vô. Quán ly tham tôi biết tôi thở ra” đó là pháp môn hơi thở xả tâm, đừng lầm lạc, phải cảnh giác các pháp môn hơi thở của tà giáo ngoại đạo mà các Tổ đã bị ảnh hưởng quá nặng, do các Tổ bị ảnh hưởng giáo pháp của ngoại đạo, nên dần dần giáo pháp của Đức Phật bị che khuất bởi chiếc áo chắp vá kiến giải của ngoại đạo Đại Thừa, đến độ người ta không còn biết đến giáo pháp của Đức Phật là gì nữa.
Nên lưu y: Từ “Tịnh chỉ hơi thở” là một điều quan trọng, vì hơi thở là mạng sống của chúng ta. Nếu hơi thở dừng thì mạng sống này không còn. Cho nên con đường tu theo Đạo Phật làm chủ được sự sống chết, tức là làm chủ được hơi thở. Dừng hoặc phục hồi được hơi thở là một sự điều khiển phải có một đạo lực do tâm ly dục ly ác pháp; phải có một cuộc sống đúng giới hạnh, không hề vi phạm những lỗi nhỏ nhặt nào, cũng không nên ăn uống ngủ nghỉ phi thời.
Vì thế, xưa Đức Phật dạy: “Thừa tự pháp, chứ không nên thừa tự thực phẩm”, tức là Đức Phật muốn dạy chúng ta không nên tham ăn, ăn uống phải đúng pháp thì sự tu hành mới làm chủ được hơi thở.
Cho nên muốn tịnh chỉ hơi thở mà còn ăn uống phi thời, tâm còn dục và ác pháp thì tịnh chỉ hơi thở sẽ đi vào cõi chết, nếu luyện tập tưởng (thở bằng lỗ chân lông, thở bằng rốn thì không chết) nhưng không làm chủ được sự sống chết.
Vì tâm còn dục (thích ăn, uống, ngủ, nghỉ, danh lợi, tiền tài, vật chất, sắc đẹp và ác pháp tham, sân, si, mạn, nghi còn) thì nội hành cơ thể còn hoạt động rất mạnh nên lượng oxy đòi hỏi phải được đầy đủ. Thầy đã dùng pháp hướng tâm và điều khiển hơi thở để tịnh chỉ hơi thở, nhưng hơi thở chỉ tịnh chỉ được một lúc mà không kéo dài ra và không dừng hẳn được, đó là chứng tỏ thân tâm thầy chưa thanh tịnh (chưa ly dục ly ác pháp sạch), cơ thể còn hoạt động như cơ thể người phàm phu. Vì vậy khi hơi thở bị nén, cơ thể muốn bảo toàn sự sống, nên phản ứng một cách rất tự nhiên, thở ra dồn dập để đủ khí oxy trở lại.
Ở Quy Nhơn có một bác sĩ tu hơi thở và tịnh chỉ hơi thở bằng cách cố nín thở để kéo dài thời gian ra và ông đã chết một cách đáng thương. Giải thoát đâu không thấy mà chết một cách oan uổng. May mắn thầy viết thư thưa hỏi nếu không hỏi:
1. Cơ thể sanh bệnh, đứt mạch máu phổi, khạc ra máu như Minh Tông.
2. Chết một cách thê thảm như ông bác sĩ ở Quy Nhơn.

Trong kinh sách Nguyên Thủy gọi Bốn Thiền là “Tứ Thánh Định”, tức là thiền định của bậc thánh. Chỉ có bốn thiền này mới tịnh chỉ được hơi thở nhưng phải sống và tu tập đúng theo đường lối Giới, Định, Tuệ, có nghĩa là:
1. Sống như Thánh (giới luật phạm hạnh đầy đủ).
2. Tu tập rèn luyện pháp hướng tâm “Tứ Chánh Cần”, tức là ngăn ác và diệt ác pháp.
Các thầy chỉ biết ngồi thiền ức chế tâm cho hết vọng tưởng mà không thấy “Tứ Chánh Cần” là “Định Tư Cụ” của Đạo Phật để nhập các loại thiền và các loại định.
Muốn nhập định, tịnh chỉ tâm hành và thân hành mà không tu tập “Tứ Chánh Cần” thì không làm sao tịnh chỉ được hơi thở.
Muốn nhập định làm chủ sanh, già bệnh, chết mà không tu “Tứ Chánh Cần” thì không làm sao làm chủ được?
Ngoài pháp “Tứ Chánh Cần” mà tìm thiền định, thì thiền định đó là tà thiền, tà định của ngoại đạo, không thể làm chủ được sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi.
Thân tâm chưa thanh tịnh mà muốn nhập định thì định đó là định giết người chưa chôn. Thiền định thời nay tu mãi biến thành pháp dưỡng sinh, ngừa bịnh chẳng có ích lợi gì mà còn phí sức vô ích.
Muốn tu hành làm chủ sanh, già, bệnh, chết và chấm dứt luân hồi thì Thầy hãy nghiên cứu lại kinh sách Nguyên Thủy, cách sống như thế nào? cách tu tập như thế nào?
Pháp nào tu trước, pháp nào tu sau. Khi thông suốt, chừng đó mới bắt đầu thực hành tu tập. Nhưng Thầy nên lưu ý “Giới Luật” là pháp môn đầu tiên của Tam Vô Lậu học, phải áp dụng sống cho đúng giới luật thì con đường tu của Thầy mới được an ổn và đúng chánh pháp.


NHỮNG NGÀY TRÊN ĐỈNH LUÂN HỒI - Mười tám đề mục định niệm hơi thở Là lệnh Phật mở ra một chân trời thanh thản, an lạc và vô sự. Ví như: An tịnh thân hành, v...v... Nếu những ai biết sợ hãi âu lo về nỗi đớn đau của thân, Nỗi sợ hãi luân hồi; nỗi khốn khổ của đôi chân khi kiết già thiền định… Thọ cảm là hiện thân của giặc sanh tử, khổ đau và đắm luỵ. Hãy an tịnh thân hành đi! Hãy bằng tâm thiết tha và ý chí, Các bạn sẽ là vị La Hán tương lai. Hơn nữa với đời sống độc cư, Một ngọ Bát cơm thiêng Tấm Lòng Vàng. Các bạn sẽ có cơ hội, giữ gìn giới luật, diệt ngã, xả tâm, đoạn tận ngũ triền cái và thất kiết sử. Khi nào đánh thắng giặc trên thì thiền định dễ dàng an trú. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni không hề nói dối. Đức Sa Môn Thích Thông Lạc thực chứng triển khai.

TRÚC-TỊNH